Chính sách công là gì là một trong những keyword được search nhiều nhất trên Google về chủ đề chính sách công là gì. Trong bài viết này, quantrinhansu.vn sẽ viết bài viết Chính sách công là gì? Tại sao chúng ta phải cần đến chính sách công?
Chính sách công là gì? Tại sao chúng ta phải cần đến chính sách công?
1. định nghĩa và các thuộc tính của chính sách công
Chính sách công (public policy) được tiếp cận tìm hiểu từ những giác độ khoa học khác nhau theo đó có những mẹo hiểu, định hình không hoàn toàn giống nhau về định nghĩa và các tính chất của chính sách công, cụ thể như:
– Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền lựa chọn sử dụng và không sử dụng. Theo cách tiếp cận này thì các hoạt động mà chính quyền làm hoặc k sử dụng cần có tác động, ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến nhân dân thì mới là chính sách công. giống như vậy không phải tất cả những việc mà chính quyền làm hoặc không sử dụng đều là chính sách công. Ví dụ: chủ trương cho người lao động nghỉ làm vào các ngày lễ, tết là chính sách công vì đó là việc chính quyền sử dụng và có tác động, ảnh hưởng dài hạn, sâu sắc đến người dân; còn đơn vị thực hiện việc nghỉ lễ, tết thế nào cho phù hợp (làm bù hay nghỉ bù) chẳng hề chính sách công mà là thực hiện chính sách công (tuy nhiên chính quyền luôn luôn phải có quyết định về việc này);
– Chính sách công là tất cả các hoạt động của chính quyền trực tiếp hay gián tiếp tác động đến cuộc sống của mọi người. Từ hướng tiếp cận này, trở lại với ví dụ nêu trên ta thấy: cả việc chủ trương nghỉ lễ, tết và thực hiện việc nghỉ lễ, tết đều là chính sách công vì cả hai việc đều tác động, tác động đến cuộc đời của mọi người. đối với quan điểm trên, ý kiến này mở hơn, rộng hơn ở việc xem cả thiết lập, ban hành và thực hiện chính sách của chính quyền đều là chính sách công. Nhưng lại hẹp hơn ở chỗ không coi những việc chính quyền không làm là chính sách công (thực tế phát triển ở các nước cho thấy chính quyền k thể và k nhất thiết phải sử dụng all mọi việc so với xã hội);

– khác với hai quan điểm trên, TS. Đặng Ngọc Lợi trong bài viết tải trên báo chí Kinh tế và dự đoán (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa về chính sách công nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước. đối với các quan niệm trên thì điểm khác căn bản trong hướng dẫn tiếp cận nhận thức về chính sách công là tính công của chính sách, tính công thể hiện trong quan niệm của TS. Đặng Ngọc Lợi là nhà nước, chính phủ không giống với quan điểm của các học giả Âu Mỹ xem tính công của chính sách là công cộng (công chúng, đối tượng chịu sự điều chỉnh, ảnh hưởng của chính sách);
– PGS.TS. Lê Chi Mai cho rằng “Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh cãi về định nghĩa chính sách công luôn luôn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự tán đồng rộng rãi” tuy vậy theo bà chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tế (thực hiện chính sách); chính sách công tập kết giải quyết những chủ đề đã đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục đích xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau. Trong bài viết của mình PGS.TS. Lê Chi Mai còn mang ra định nghĩa “chính sách tư” là chính sách do các cơ quan, tổ chức ban hành nhằm khắc phục những chủ đề thuộc về nội bộ cơ quan, tổ chức, k có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan, tổ chức. giống như vậy, so với các quan niệm đang nêu ta thấy có những điểm tương đồng trong quan niệm về chính sách công như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn (coi công cuộc thực hiện là một phần của chính sách công).
Ngoài các thuộc tính đã nêu ở trên, trong hạn chế của mình, tác giả bài viết cho rằng, chính sách công còn có tính nền móng, tính kế thừa lịch sử và chính sách công luôn gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, không gian nhất định. Cụ thể như sau:
– tìm hiểu lý thuyết và thực tiễn cho thấy một chính sách hàm chứa trong nó những content có liên quan đến nhau và có liên hệ, ảnh hưởng với các chính sách không giống, theo đó tạo nên tính nền tảng của chính sách công. Ví dụ: cải phương pháp hành chính là chính sách công, trong đó có các nội dung như: cải cách thể chế; cải mẹo thủ tục hành chính; cải cách đơn vị bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải phương pháp tài chính công; hiện đại hoá hành chính. Thực hiện các content của cải cách hành chính có liên quan đến chính sách cải phương pháp tiền lương, chính sách tài chính – tiền tệ. Những gợi ý trên cho thấy tính hệ thống của chính sách công;
– Lịch sử phát triển không gian đang khẳng định quy luật phát triển xã hội theo ảnh “xoáy trôn ốc” tức là tăng trưởng xã hội luôn có trong nó sự kế thừa lịch sử. Là một bộ phận của xã hội, sự phát triển của nhà nước, của chính sách công k thoát ly khỏi quy luật trên và từ thực tiễn đó khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật lịch sử của C. Mác so với thành công của nhà nước và xã hội. như vậy chính sách công k thể không có tính kế thừa lịch sử;
– Vì chính sách công bao gồm cả hoạt động thực thi chính sách cho nên phải gắn với chủ thể ban hành và thực hiện chính sách công. Ngay cả trên lý thuyết, việc nghiên cứu những vấn đề chung về chính sách công cũng phải tính từ lúc chính sách công của các đất nước cụ thể. Từ đó cho thấy chính sách công luôn gắn với một (hoặc một số) đất nước cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, không gian nhất định. tuy nhiên cũng cần thấy rằng phạm vi ảnh hưởng của chính sách công không chỉ bó hẹp trong một hoặc một số đất nước, nhưng k vì vậy mà có quan điểm chính sách công chung chung k gắn với đất nước nào cả.
tóm lại chính sách công có các thuộc tính căn bản như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và gắn với một đất nước cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, không gian nhất định. Đây là nhận thức bước đầu về chính sách công theo hướng tiếp cận của khoa học đơn vị nhà nước.
2. Phân loại chính sách công
Dựa trên các tiêu chí không giống nhau theo đó chính sách công được phân loại thành các nhóm như:
– Theo bản chất của chính sách: chính sách bị động và chính sách chủ động;
– Theo thời gian thực hiện chính sách: chính sách ngắn hạn và chính sách dài hạn;
– Theo mức độ của chính sách: chính sách cho toàn thể và chính sách cho bộ phận;
– Theo khu vực áp dụng mà chính sách hướng tới: chính sách cho khu vực công hoặc chính sách cho khu vực tư;
– Theo định hướng của chính sách: chính sách cấp tiến, chính sách bảo thủ;
– Theo hiệu quả thực hiện chính sách: chính sách thực chất, chính sách thủ tục;
– Theo hình thức thể hiện chính sách: chính sách phân bổ, chính sách tái phân bổ, chính sách điều tiết;
– Theo bí quyết thực hiện chính sách: chính sách mang tính cưỡng chế, chính sách mang tính thuyết phục;
– Theo chân trời của chính sách: chính sách đối nội, chính sách đối ngoại.
Việc phân loại chính sách có ý nghĩa tương đối, vì một chính sách đủ sức vừa ở loại này vừa ở loại khác. Ví dụ: chính sách đối nội có thể áp dụng cho cả khu vực công và khu vực tư của một quốc gia; giống như vậy chúng thuộc hai group phân loại.
Khoa học tổ chức nhà nước tìm hiểu các content liên quan đến đơn vị và hoạt động của nhà nước, theo đó ngoài phương pháp phân loại chính sách công theo 9 nhóm đã nêu trên, đủ sức phân loại chính sách công với các tiêu chí như:
– Các chính sách về đơn vị bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước. Ví dụ: tổ chức bộ đơn ngành nghề hay bộ đa ngành; không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
– Các chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng nguồn nhân công công (chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức). Ví dụ: Kết bàn luận của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương kiềm hãm X về thường xuyên đẩy mạnh thực hiện plan cán bộ từ nay đến năm 2020.
– Các chính sách liên quan đến tiền lương và chế độ đãi ngộ so với cán bộ, công chức, viên chức. Ví dụ: Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về “một số vấn đề về cải phương pháp chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định dạng cải hướng dẫn đến năm 2020”.
Ngoài mẹo phân loại nêu trên còn có thể phân loại chính sách công theo lĩnh vực; ví dụ: chính sách công trong ngành nghề y tế, dạy bảo. Hoặc phân loại theo tính năng, nghĩa vụ của Chính phủ; ví dụ: theo quy định của Hiến pháp, Chính phủ có nghĩa vụ “Thống nhất thống trị về kinh tế, văn hóa, xã hội, dạy bảo, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh đất nước, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc khích lệ cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết không giống để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính online, tài sản của Nhân dân” theo đó Chính phủ xây dựng và thực hiện “Chiến lược phát triển khoa học, công nghệgiai đoạn 2011 – 2020” là chính sách công trong Nhiệm vụ cai quản khoa học, công nghệ của Chính phủ.
3. Chính sách công với luật pháp
a) So sánh các thuộc tính
Bảng so sánh các thuộc tính của chính sách công với pháp luật
Chính sách công | luật pháp |
– Tính nhà nước | – Tính đảm bảo thực hiện bằng nhà nước |
– Tính công cộng | – Tính đa dạng |
– Tính hành động thực tế | – Tính dựng lại chặt chẽ về mặt hình thức |
– Tính hệ thống | – Tính nền móng, tính thống nhất |
– Tính kế thừa lịch sử | – Tính kế thừa |
– Tính gắn với một quốc gia cụ thể |
b) So sánh về chủ thể ban hành và phân khúc điều chỉnh, ảnh hưởng
pháp luật | CHÍNH SÁCH CÔNG | |
Chủ thể ban hành | – Nhà nước | – Nhà nước |
phân khúc điều chỉnh, ảnh hưởng | – Các tầng lớp không giống nhau trong không gian | – Các tầng lớp không giống nhau trong thế giới |
c) Một số nhận xét
Qua các so sánh cho thấy giữa chính sách công với pháp luật có nhiều điểm tương đồng cụ thể như:
– Chủ thể ban hành pháp luật và chính sách công là nhà nước. Cụ thể hơn là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách, luật pháp. Ví dụ: Quốc hội, Chính phủ;
– thị trường điều chỉnh, ảnh hưởng là các tầng lớp không giống nhau trong thế giới (nhân dân) như: người dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Ví dụ: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước công đoạn 2011 – 2020 k chỉ điều chỉnh với các đối tượng trong cơ quan nhà nước giống như cán bộ, công chức, viên chức mà còn ảnh hưởng với người dân, doanh nghiệp, người lao động, người nước ngoài qua nội dung về cải hướng dẫn thủ tục hành chính;
– Giữa pháp luật với chính sách công có những điểm tương đồng về một số thuộc tính như: tính nhà nước, tính hệ thống, tính kế thừa và tính công cộng (phổ biến).
Bên cạnh sự tương đồng, giữa chính sách công với pháp luật cũng có sự không giống biệt:
– Qua bảng so sánh các thuộc tính của chính sách công với pháp luật cho thấy chính sách công luôn gắn với một đất nước cụ thể cho dù phạm vi tác động của chính sách rộng lớn, liên quan đến nhiều quốc gia không giống. Trong khi đó pháp luật quốc tế ngoài chủ thể là đất nước còn có các chủ thể không giống như: các vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, các dân tộc đã đấu tranh giành quyền tự quyết. như vậy xét trên phương diện chủ thể (khác với chủ thể ban hành) có sự không giống nhau về thị trường, phạm vi của chủ thể giữa pháp luật với chính sách công;
– Có một sự không giống biệt nữa giữa luật pháp với chính sách công có liên quan đến chủ thể là thời điểm xuất hiện và quy trình, bí quyết để trở thành chủ thể. Chủ thể ban hành chính sách công được định hình ngay khi chính sách đó được ban hành nhưng chủ thể của luật pháp quốc tế (một bộ phận của luật pháp quốc gia) có quyền tham gia trong quá trình áp dụng. Ví dụ: Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (Công ước về quyền trẻ em) được mang ra ký ngày 20/11/1989 và có hiệu lực ngày 02/9/1990 khi được 20 đất nước phê hợp lý và tham gia. Đến nay vừa mới có 193 quốc gia tham dự, như vậy có 173 chủ thể du nhập sau ngày Công ước có hiệu lực (hai quốc gia là Hoa Kỳ và Somalia chưa gia nhập).
Ngoài các nhận xét nêu trên, từ giác độ nghiên cứu tác giả post cho rằng giữa chính sách công với luật pháp còn có mối liên hệ giữa content và hình thức. Ví dụ: Pháp lệnh ưu đãi người có công với hướng dẫn trực tuyến. content của văn bản thể hiện chính sách của Nhà nước đối với người có công. hình thức văn bản (thể hiện qua tên gọi) là Pháp lệnh. như vậy giữa pháp luật với chính sách công ngoài sự tương đồng, không giống biệt còn có mối liên nền móng nhất giữa nội dung với thể loại thể hiện. Đây là những bổ sung mới trong so sánh giữa chính sách công với luật pháp từ giác độ khoa học đơn vị nhà nước.
Trên đây là một số nội dung tìm hiểu về chính sách công từ giác độ tiếp cận của khoa học đơn vị nhà nước. Ngoài các content trên còn có những nội dung khác như: nghiên cứu chính sách công về tổ chức nhà nước; các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các thành phần đối với chính sách công; chính sách công về đơn vị nhà nước… sẽ được liên tục nghiên cứu, giới thiệu sau./.