Quản trị nguồn nhân lực là gì là một trong những keyword được search nhiều nhất trên Google về chủ đề quản trị nguồn nhân lực là gì. Trong bài viết này, quantrinhansu.vn sẽ viết bài viết Quản trị nguồn nhân lực là gì? Tại sao chúng ta cần quản trị nguồn nhân lực?
Quản trị nguồn nhân lực là gì? Tại sao chúng ta cần quản trị nguồn nhân lực?
định nghĩa, chức năng và Nhiệm vụ của quản trị gốc nhân công
định nghĩa
Có nhiều phương pháp phát biểu về Quản trị nguồn nhân công do tác động phương pháp tiếp cận và nhận thức không giống nhau. Một trong những khái niệm thường dùng đó là: “Quản trị nguồn nhân công là toàn bộ các hoạt động, chính sách và các quyết định cai quản liên quan có tác động đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhân viên của nó “.
hiện tại khái niệm hiện đại về Quản trị gốc nhân lực là: “Quản trị gốc nhân công là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục đích của tổ chức trong khi đồng thời chăm chỉ đạt được những mục đích của cá nhân “.
mục đích của tổ chức:
- chi phí lao động thấp trong giá bán.
- Năng suất lao động tối đa của nhân viên.
- gốc nhân công ổn định và chuẩn bị.
- Sự trung thành của người lao động.
- Sự hợp tác gần gũi của người lao động.
- Người lao động phát huy và đóng góp những sáng kiến.
- đơn vị sản xuất một hướng dẫn khoa học và chặt chẽ.
- lợi nhuận tối đa và chiến thắng trong cạnh tranh.
mục đích của cá nhân:
Thỏa mãn những nhu cầu k ngừng tăng lên của con người
Một hướng dẫn cụ thể những nhu cầu đó là:
- Nhu cầu về việc sử dụng và điều kiện sử dụng việc:
- Việc làm an toàn (về tính trực tuyến, thể trạng, tài sản, an ninh tâm lý …).
- Việc sử dụng k đơn điệu và buồn chán.
- Việc sử dụng phù hợp với năng lực và sở trường của một mình.
- Được sử dụng việc trong bầu k khí lành mạnh và gần gũi.
- Có cơ sở vật chất thêm vào cho công việc.
- Thời gian làm việc thích hợp.
- Việc tuyển nhân viên phải ổn định.
- Quyền một mình và lương bổng:
- Được đối xử theo mẹo tôn trọng phẩm giá của con người.
- Được cảm thấy mình cần thiết và cần thiết.
- Được quyền sử dụng việc dưới sự điều khiển của cấp trên là người hiểu biết.
- Được quyền làm việc dưới sự điều khiển của cấp trên là người có cấp độ giao tế nhân sự.
- Được quyền tham dự vào các quyết định có tác động trực tiếp đến một mình mình.
- muốn được đối xử một cách công bằng.
- mong muốn hệ thống lương bổng công bằng và được trả công theo sự đóng góp mỗi người.
- cơ hội thăng tiến:
- Được cấp trên nhận biết thành tích trong quá khứ.
- cơ hội được tham dự các khóa training và phát triển.
- thời cơ bày tỏ tài năng: tạo điều kiện cho họ lập thành tích và thích thú trong công việc.
- thời cơ được thăng chức để refresh mức sống và việc làm có tương lai.
Câu hỏi cần thiết mà các nhà QL phải trả lời là: CN thực sự muốn gì từ công việc của họ? Một số nghiên cứu thú vị vừa mới được tiến hành trong số các công nhân của ngành nghề công nghiệp Mỹ để thử trả lời câu hỏi này. Trong một công trình nghiên cứu giống như vậy, các giám sát viên được yêu cầu thử đặt mình vào địa vị của những công nhân và sắp xếp thứ tự tầm cần thiết của các loại chỉ tiêu miêu tả mọi điều mà công nhân muốn từ công việc của họ. Cần bấm mạnh rằng, trong việc sắp đặt các chỉ tiêu, giám sát không nên nghĩ về cái họ muốn, mà phải theo cái công nhân muốn. Cùng với các giám sát viên, các công nhân được yêu cầu xếp thứ tự các chỉ tiêu theo khía cạnh từ điều họ muốn nhất từ công việc của họ.
kết quả được ghi nhận giống như sau: 1 = cao nhất và 10 = thấp nhất theo tầm quan trọng.
Giám sát viên | Công nhân | |
Điều kiện sử dụng việc tốt | 4 | 9 |
Cảm giác kiểm soát sự vật | 10 | 2 |
rèn luyện kỷ luật | 7 | 10 |
Sự nghiên cứu đầy đủ các công việc đang sử dụng | 8 | 1 |
Sự trung thành về quản lý so với công nhân | 6 | 8 |
Lương cao | 1 | 5 |
Triển vọng và sự phát triển của công ty | 3 | 7 |
Sự đồng cảm với những chủ đề cá nhân | 9 | 3 |
Đảm bảo công việc | 2 | 4 |
Công việc thú vị | 5 | 6 |
kết quả này cho thấy, các giám sát viên nói chung cho rằng lương cao, đảm bảo công việc, triển vọng và điều kiện làm việc tốt là điều mà công nhân mong muốn nhất từ công việc của họ. Song người công nhân không nghĩ như thế.
Một cuộc điều tra tại Viet Nam trong năm 2007 của một tổ chức độc lập về vấn đề tương tự cho kết quả như sau:
Mối để ý của công ty | Mối chú ý của nhân viên | |
Lương bổng và phúc lợi | 8 | 1 |
đào tạo và phát triển | 5 | 2 |
Sự hài lòng công việc | 1 | 3 |
Chính sách và quy trình | 6 | 4 |
cai quản công việc | 3 | 5 |
mối liên kết công việc | 2 | 6 |
sức khỏe và an toàn lao động | 7 | 7 |
Liên lạc nội bộ | 4 | 8 |
Từ những quan điểm bây giờ về nhân viên, quản trị nguồn nhân công đã được tăng trưởng trên cơ sở những quy tắc sau:
- nhân sự được đầu tư thỏa đáng để tăng trưởng các năng lực riêng nhằm thỏa mãn các nhu cầu một mình, cùng lúc tạo ra năng suất lao động, kết quả làm việc cao và đóng góp tốt nhất cho đơn vị.
- hoàn cảnh sử dụng việc được xây dựng sao cho đủ nội lực kích thích nhân viên tăng trưởng và sử dụng tối đa kỹ năng của mình.
- Các tính năng nhân sự được hòa hợp và là một bộ phận chiến lược quan trọng trong chiến lược của công ty.
- QTNNL cho đến nay phải được trải rộng ra các nhánh của tổ chức, chứ không chỉ tập hợp ở bộ phận tổ chức Cán bộ.
Các tính năng cơ bản của quản trị gốc nhân lực
Các hoạt động chính của Quản trị gốc nhân lực tập hợp vào 4 ngành sau đây:
- tính năng thu hút, tuyển lựa chọn và bố trí nhân viênchức năng này nhằm đảm bảo đủ số lượng nhân sự với trình độ, skill, phẩm chất thêm vào với công việc và sắp đặt họ vào đúng công việc để đạt được kết quả cao nhất.
- chức năng huấn luyện và tăng trưởnggroup tính năng này nhằm nâng cao trình độ lành ngành, các skill và các nhận thức mới cho nhân viên. huấn luyện, phát triển hướng đến nâng cao các giá trị của tài sản nhân công cho công ty nhằm gia tăng mức độ cạnh tranh cũng giống như tăng mức độ thích nghi với hoàn cảnh đầy cải thiện.
- tính năng duy trì và dùng nguồn nhân côngchức năng này nhằm vào việc dùng có hiệu quả gốc nhân lực. chức năng này hướng đến sự phát huy tối đa mức độ làm việc của nhân viên đồng thời tạo ra sự gắn bó trung thành với tổ chức. Các chính sách liên quan đến động viên đúng đắn sẽ góp phần nâng cao tinh thần và nhiệt tình cho nhân sự.
- chức năng thông tin và dịch vụ về nhân công (Quan hệ lao động)chức năng này nhằm cung cấp các thông tin có liên quan đến người lao động và thực hiện các dịch vụ đưa tính phúc lợi cho nhân sự. Các thông tin về lao động bao gồm các vấn đề như: chính sách tiền lương, tiền công, thông tin về tuyển dụng, đề bạt, coaching, đánh giá kết quả công việc, các thông tin liên quan đến liên kết lao động hay các thông tin về an toàn và bảo hộ lao động… Thực hiện tốt tính năng này nhằm thỏa mãn sự ưng ý cho nhân sự. Họ cảm thấy được tôn trọng khi mà không có gì là tuyệt chiêu so với họ. tính năng này còn gồm có các dịch vụ có tính phúc lợi cho nhân sự như: chương trình chăm sóc y tế, bảo hiểm, phân chia phúc lợi, cổ phiếu. Các chương trình giống như vậy là động lực cho nhân sự gắn bó lâu dài với đơn vị.
Quản trị nguồn nhân lực bây giờ gắn liền với mọi đơn vị bất kể cơ quan đơn vị đó có bộ phận Quản trị nguồn nhân công hay không. Quản trị gốc nhân lực là khó khăn khó khăn hơn quản trị các thành phần không giống của tiến trình sản xuất vì mỗi con người là một thế giới rất riêng biệt họ khác nhau về năng lực làm việc, về hoàn cảnh gia đình, tình cảm, tham vọng… và luôn vận động cải thiện .Điều này đòi hỏi quản trị con người phải là một khoa học và nghệ thuật. Nghĩa là phải sử dụng khoa học quản trị về con người một hướng dẫn uyển chuyển thích hợp cho những tình huống cụ thể trong môi trường cụ thể.
3. Nhiệm vụ của Quản trị gốc nhân công
Để thực hiện các tính năng trên, nghĩa vụ của quản trị nguồn nhân công bao gồm:
- Hoạch định và dự báo nhu cầu nhân viên
- lôi kéo, tuyển mộ nhân sự
- Tuyển chọn nhân sự
- coaching, huấn luyện, phát triển gốc nhân lực
- sắp đặt dùng và thống trị nhân viên
- thúc đẩy, khích lệ nhân sự
- Trả công lao động
- nghiên cứu năng lực thực hiện công việc của nhân sự
- An toàn và sức khỏe
- Thực hiện giao tế nhân viên
- khắc phục các tương quan nhân sự (các liên kết lao động như: khen thưởng, kỷ luật, sa thải, tranh chấp lao động …).
Lý thuyết mới về tăng trưởng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và cao cần phụ thuộc ít nhất 3 trụ cột căn bản sau:
- áp dụng công nghệ mới
- phát triển hạ tầng cơ sở
- phát triển nguồn nhân công
Trong đó phát triển gốc nhân công là then chốt. Đặc biệt gốc nhân lực chất lượng cao là một thành phần quyết định nhất của sự tăng trưởng kinh tế. Nếu xem xét dưới góc độ phát triển vững bền bao gồm: tăng trưởng kinh tế, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường thì tăng trưởng gốc nhân công vừa là nguồn lực vừa là mục tiêu cuối cùng là tuyệt vời của quá trình phát triển ở mỗi quốc gia, vì nó gắn liền với tăng trưởng con người và lấy con người sử dụng trung tâm của thành công. Hay nói không giống đi vì con người mà phát triển và sự phát triển nhờ con người.
Vài nét về sự hình thành và tăng trưởng của Quản trị gốc nhân lực:
Tách ra khỏi chức năng quản trị chung từ nám 1850, trong suốt thời gian dài quản trị nhân sự chỉ thi hành tính năng hành chánh như lưu trữ hồ sơ nhân viên, chấm công , thực hiện các công việc sự vụ theo lệnh cấp trên … đủ nội lực nói Quản trị nhân sự lúc đầu được coi giống như một tính năng ghi chép rất ít có giá trị nếu không muốn nói là vô trị giá so với mục tiêu của tổ chức .
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Taylo (người Mỹ 1856-1915 ) vừa mới khởi xướng phương pháp tiếp cận mới cho quản trị nhân sự . Quản trị nhân sự công đoạn này đã chú trọng đặc biệt đến năng suất lao động và tìm ra công thức thực hiện công việc một cách nhanh nhất. Điều này đã buộc các nhà Quản trị nhân viên để ý đến tính năng training, coaching công nhân để thực hiện các phương pháp sử dụng việc khoa học.
Trong khoảng 1930-1959, các nhà quản trị theo trường phái “thuyết động viên” giống như Elton Moyo, Fayon cho rằng: năng suất lao động vẫn có thể grow up ngay cả khi điều kiện lao động xấu đi nếu biết chú ý đến con người. Từ đây các chức năng nghĩa vụ của quản trị nhân viên được làm phong phú hơn bởi một loạt các chủ đề như: giao tế nhân sự, an toàn và sức khỏe, phúc lợi và coaching, … Quản trị nhân viên trong giai đoạn này nhấn mạnh các nguyên nhân về phong cách lãnh đạo, sự thoải mái của nhân viên, bầu không khí tập thể là những thành phần cần thiết để nâng cao năng suất lao động.
Vào những năm 70 của thế kỷ 20 , sự phát triển của công nghệ máy tính đang giúp ích rất nhiều cho các hoạt động quản trị nhân viên , đặc biệt trong các kỹ thuật trắc nghiệm để tuyển chọn nhân viên , tính toán tiền lương …
Từ năm 1980 nền kinh tế thế giới đi vào thời kỳ suy thoái và sự cạnh tranh tàn nhẫn đưa tính toàn cầu buộc các nhà cai quản phải nỗ lực giảm giá bán tăng trưởng cấp độ cạnh tranh nhưng cùng lúc phải cung cấp những nhu cầu không ngừng tăng trưởng của nhân sự. Đến lúc này Quản trị nhân viên vừa mới được nâng lên ở một tầm cao mới với tên gọi Quản trị nguồn nhân lực. Quản trị nguồn nhân công thay đổi hẳn cach Quan sát về người lao động làm thuê. Trong quá khứ các nhà quản lý chỉ coi người lao động làm thuê như “chi phí “của tổ chức. ngày nay các nhà quản trị ngày càng có khuynh hướng coi người lao động giống như tài sản của đơn vị. vì thế họ càng muốn đầu tư vào nguồn lao động với mục đích thu được lợi nhuận từ việc đầu tư đó trong tương lai.
Sự không giống biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực được trình bày giống như sau:
Quản trị nhân sự | Quản trị gốc nhân công | |
quan điểm chung | – Lao động là ngân sách đầu vào | – nhân viên là tài sản/nguồn vốn cần được phát triển |
mục đích huấn luyện | – tạo điều kiện cho nhân viên thích ứng vào vị trí công tác của họ | – training là đầu tư tăng trưởng nguồn lực của đơn vị |
dùng con người | – Ngắn hạn và trung hạn | – lâu dài |
Lợi thế cạnh tranh | – phân khúc và công nghệ | – Chất lượng gốc nhân lực |
Cơ sở của năng suất và chất lượng | – Máy móc + tổ chức | – Công nghệ + đơn vị + Chất lượng nguồn nhân công |
Các yếu tố cổ vũ | – Tiền + Thăng tiến ngành nghiệp | – tính chất công việc + Thăng tiến nghề nghiệp + Tiền |
Thái độ đối với sự thay đổi | – nhân viên thường chống lại sự cải thiện, cần phải thay thế họ | – gốc nhân lực chất lượng cao thích ứng với sự chuyển đổi của môi trường. |
- Quản trị nguồn nhân công là chông gai và khó khăn vì con người là một thực thể rất khó khăn. Mỗi con người là một thế giới riêng biệt họ không giống nhau về năng lực sử dụng việc, sở like nguyện vọng về môi trường cá nhân… Trong mỗi con người luôn vận động và refresh, thậm chí đôi khi trong mỗi con người có những mâu thẫu trong nghĩ suy, lời nói và hành động. thành ra hiểu và nghiên cứu đúng về mỗi con người là không không khó khăn. Có lẽ vì thế mà ông bà đã nói: “Dò sông dò bể easy dò, nào ai quét thước mà đo lòng người”.
- Quản trị nguồn nhân lực gắn liền với mọi tổ chức bất kể cơ quan đơn vị đó có bộ phận quản trị nhân viên hay không. Bởi vì không một đơn vị thiếu nguyên nhân con người. Mà vừa mới có nguyên nhân con người thì cần phải quản trị con người. quan trọng quản trị gốc vốn cần thiết của tổ chức.
- Quản trị gốc nhân công hiện giờ trải rộng khắp các nhánh của tổ chức, chứ k chỉ hội tụ vào tính năng Nhiệm vụ của phòng đơn vị nhân sự. Điều này cho thấy mọi cấp mọi bộ phận đều cần có trách nhiệm trong việc thống trị nguồn nhân lực của mình. cai quản nguồn nhân công không chỉ là cai quản đội ngũ nhân sự mà ngay cả cấp lãnh đạo cũng quan trọng thống trị để đủ sức tối ưu hóa hiệu suất sử dụng việc của họ. Ở nhiều tố chức người xem nghĩ rằng quản trị nhân sự là chỉ quản trị cấp nhân viên mà quên việc thống trị đội ngũ lãnh đạo.
- Quản trị gốc nhân lực hiện giờ là một khoa học và là một nghệ thuật. Là khoa học vì nó sử dụng những thành tựu của khoa học để nghiên cứu về con người, rút ra những quy tắc mang tính bàn luận khoa học trong quản lý con người. Là nghệ thuật bởi cai quản con người không thể tuân thủ những quy tắc máy móc, nó đòi hỏi tính linh hoạt, uyển chuyển trong thống trị con người. Nghệ thuật về tìm hiểu và điều khiển con người đỏi hỏi những khả “linh cảm” của người lãnh đạo. Những linh cảm đó chỉ có được khi chúng ta có được nền móng kiến thức sâu sắc về con người và đặc biệt nó phải được trải nghiệm qua thực tiễn cuộc đời. Những rút ra về thành đạt cũng như thất bại trong cuộc đời được soi rọi bởi nền tảng kiến thức sẽ khiến chúng ta thành công hơn. Ngay cả khi fail trong các quyết định về con người được nghiền ngẫm một mẹo nghiêm túc cũng sẽ giúp chúng ta tránh những lỗi lầm tiếp theo.
Vai trò của Quản trị gốc nhân công
- công đoạn từ năm 1950-1960 người đọc coi sản xuất là lợi thế cạnh tranh
- công đoạn từ năm 1960-1970 thì tài chính được coi là yếu tố quyết định đến cạnh tranh
- giai đoạn từ năm 1970-1980 hoạt động mkt là trọng điểm
- giai đoạn từ năm 1980-1990 Công nghệ thông tin giữ vai trò quan trọng
- công đoạn từ năm 1990-nay, QTNNL hay yếu tố con người được coi là yếu tố quyết định đem lại lợi thế cạnh tranh.
bây giờ các hoạt động của QTNNL vừa mới phong phú và phổ biến nhằm tăng cao hóa các quá trình quản trị con người.
thực tế cho thấy các doanh nghiệp luôn mong muốn hoạt động một mẹo có hiệu quả. Những đặc điểm của các đơn vị có kết quả đủ sức bao gồm cấp độ sinh lời, doanh số trên vốn đầu tư , thị phần , mức tăng trưởng , cấp độ thích nghi và đổi mới, và đủ sức là cả mục tiêu tối thượng là: sống sót. đủ sức nói rằng: một tổ chức hoạt động có hiệu quả, nếu nó cung cấp cho người tiêu sử dụng những dịch vụ và hàng hóa mong muốn một mẹo kịp thời với chi phí phải chăng và chất lượng hợp lý. giống như vậy, hiệu quả là khả năng định hình các mục tiêu thêm vào.
hiệu quả hoạt động của tổ chức lệ thuộc nhiều vào hiệu suất khi thực hiện công việc .
Các món hàng và dịch vụ được xây dựng bằng hướng dẫn kết hợp các gốc tài nguyên và phân phối trị giá tăng trưởng cho khách hàng. Nếu ta cho rằng all các gốc tài nguyên của đơn vị giống như nguyên vật liệu, các dữ liệu, công nghệ , vốn và gốc nhân lực – giống như là đầu vào và các món hàng cũng giống như dịch vụ được tạo ra như đầu ra , thì các đơn vị đều tìm mẹo tăng trưởng tối đa đầu ra đồng thời giảm đến mức tối thiểu đầu vào . giống như vậy, hiệu suất được hiểu như là mối gắn kết giữa các đầu vào và đầu ra để tìm cách tiết kiệm các chi phí về gốc lực. Những quyết định nhân viên sẽ khiến đơn vị thống trị hiệu suất của các nhân viên của mình. Và bởi vì các nhân viên này lại ra các quyết định về thống trị tất cả những nguồn tài nguyên khác, nên hiệu suất của nhân sự là một nhân tố cần thiết quyết định hiệu suất của tổ chức.
Các hoạt động Quản trị gốc nhân lực trong công ty
- Hoạch định gốc nhân lực
- phân tích công việc
- giới thiệu công việc
- Phỏng vấn
- Trắc nghiệm
- Lưu trữ hồ sơ
- định hình công việc
- training đào tạo công nhân
- Bình bầu phân tích thi đua
- Bồi dưỡng nâng cao trình độ
- Quản trị tiền lương
- Quản trị tiền thưởng
- Quản trị các vấn đề phúc lợi
- Công đoàn
- thu hút nhân sự tham dự thống trị doanh nghiệp
- phân tích công việc
- Ký phối hợp đồng lao động
- giải quyết khiếu tố lao động
- Giao tế nhân sự
- Thực hiện các thủ tục, nghỉ việc , nghỉ hưu …
- Kỷ luật nhân viên
- thúc đẩy sáng kiến, chương trình kỹ thuật
- Chương trình chăm sóc thể trạng, y tế, an toàn lao động
- Điều tra ý kiến của nhân viên.
nghĩa vụ của thống trị trực tiếp và của phòng nhân sự:
Hoạt động | nghĩa vụ của quản lý trực tiếp | nghĩa vụ của phòng nhân sự |
bố trí | phân phối thông tin cho nghiên cứu công việc; hội nhập plan plan với kế hoạch nhân viên tại đơn vị; phỏng vấn ứng viên; hội nhập các thông tin thu thập bởi phòng nhân sự; ra quyết định cuối cùng về thuê mướn và đề bạt ở cấp mới vào. | đánh giá công việc; hoạch định nhân sự; tuyển dụng; tuân thủ luật lệ và các quy định hiện hành; xem xét đơn xin việc; check trắc nghiệm viết và thực hiện Nhiệm vụ xác minh hồ sơ, khám sức khỏe. |
huấn luyện, phát triển | coaching tại ngành sử dụng việc; thú vị hóa công việc; kèm cặp; động viên; phản hồi đánh giá việc thực hiện Nhiệm vụ cho người lao động. | phân tích và khảo sát tinh thần; huấn luyện kỹ thuật; phát triển cai quản và tổ chức; cố vấn cho người lao động; nghiên cứu nhân viên. |
Duy trì, dùng NNL | Đối xử công bằng với người lao động; truyền đạt cởi mở; giải quyết xung đột trực tiếp; đề nghi sử dụng việc theo đội; tôn trọng nhân phẩm cá nhân; gia tăng lương. | Đãi ngộ đền bù, và những lợi ích; quan hệ lao động; an toàn và sức khỏe; dịch vụ cho người lao động |
quan hệ LĐ | Kỷ luật, thuyên chuyển, thải hồi, giảm biên chế. | xem xét giải quyết khiếu nại của người lao động, về hưu, cố vấn. |
Các kinh nghiệm về nhân viên và ảnh hưởng của sự cải thiện đến QTNNL
Các triết lý nhân sự
Các nhà nghiên cứu về về quản trị đều hiểu rằng: kinh nghiệm nhân sự và cách xử sự của các quản trị gia với nhân sự ảnh hưởng rất mạnh đến bầu k khí tập thể, cấp độ sử dụng việc của nhân viên và hiệu quả quản trị.
Các nhà tìm hiểu về hành vi tổ chức đã mang ra những giả thuyết về bản chất con người làm cơ sở cho thuyết X và thuyết Y giống như sau:
Thuyết X | Thuyết Y | |
quan niệm vềngười lao động | – Con người vốn lười biếng- Họ luôn tìm phương pháp lãng tránh trách nhiệm và k có thích thú – Hầu hết mọi người ít có khả năng sáng tạo- Con người k muốn và luôn chống lại sự refresh, đổi mới. – Động cơ thúc đẩy họ chỉ là thành phần vật chất. – Họ là người k đáng tin cậy. | – Con người luôn nỗ lực– Họ like nhận thêm trách nhiệm- Nhiều người có khả năng sáng tạo khi khắc phục các vấn đề – Con người luôn hướng đến sự đổi mới – Động cơ xúc tiến làm việc k chỉ vấn đề vật chất mà quan trọng hơn là giá trị tinh thần – Họ là người đáng tin cậy. |
Hệ thốngquản trị | – Bắt buộc nhân sự sử dụng việc- rà soát nghiêm ngặt – trừng phạt nghiêm khắc | – Khen thưởng, cổ vũ nhân viên– Thực hiện chế độ tự quản |
Trên đây chỉ mang tính giả thuyết, trong thực tế việc áp dụng không mang tính máy móc. Sự “pha trộn” các quan điểm khác nhau theo thuyết X và thuyết Y đã trở thành style quản trị của nhiều nhà quản trị.
hiện nay, người đọc còn đề cập nhiều đến thuyết Z, thuyết của các công ty Nhật Bản. Thuyết Z với quan điểm “Công nhân vui sướng là chìa khóa để tăng năng suất lao động”.
Với quan niệm giống như vậy các công ty Nhật Bản theo tư tưởng thuyết Z đã chăm chỉ chăm lo tối đa cho nhân viên.
Để thấy rõ điều này ta đủ nội lực so sánh mô hình quản trị gốc nhân công theo thuyết A (Mỹ) và thuyết Z (Nhật)
Mô ảnh Quản trị gốc nhân lực theo thuyết A (Mỹ) và thuyết Z (Nhật)
Thuyết A (Mỹ) | Thuyết Z (Nhật) | |
1. Cơ chế kinh doanh | – mục tiêu : lợi nhuận– phương thức : cạnh tranh tự do – Trách nhiệm : một mình – Luật pháp: doanh nghiệp to thống lĩnh và chi phối thị trường. Nhà nước can thiệp thông qua luật pháp. | – mục đích : phát triển– cách thức link – Trách nhiệm : tập thể – pháp luật : tập đoàn kinh tế là cầu nối công ty với nhà nước |
2. văn hóa | – Động lực là các yếu tố về kinh tế- Tự do một mình lấn áp tập thể – Xung đột chủ yếu do lý do kinh tế – đánh giá nhân viên mẹo biệt – kiến thức giáo dục theo thể loại chuyên sâu (chuyên môn hóa hẹp) do một mình đầu tư . | – Động lực là các nguyên nhân về tinh thần– Tập thể có vai trò lớn hơn một mình – Tránh xung đột tối đa – nghiên cứu nhân viên có tính quân bình – dạy bảo là trách nhiệm của cha mẹ so với con cái và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhân sự và đào tạo theo diện rộng . |
3. Quản trị gốc nhân công | – tuyển nhân sự ngắn hạn- Đề bạt thăng tiến nhanh- Chuyên môn hóa hẹp – huấn luyện chuyên sâu – rà soát nghiêm ngặt – Quyết định có tính cá nhân- Trách nhiệm cá nhân- Lương có tính phương pháp biệt | – tuyển nhân viên suốt đời- Đề bạt thăng tiến chậm – Chuyên môn hóa rộng – huấn luyện đa skill diện rộng – test có tính mặc nhiên – Quyết định đưa tính tập thể – Trách nhiệm tập thể – Lương đưa tính cân bằng |
Chúng ta cũng hiểu rằng: kinh nghiệm nhân viên của quản trị gia cao cấp nhất công ty sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quản trị gia cấp dưới và toàn thể nhân sự, và từ đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định nhân viên.
ngày nay tính toàn cầu hóa vừa mới diễn ra mạnh mẽ nhờ sự phát triển đưa tính bùng nổ của hệ thống công nghệ thông tin thế giới. Điều này có thể kéo đến sự đan xen các nền văn hóa khác nhau. Song sự ảnh hưởng của nền kiến thức mỗi nước vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình QTNNL nhất là ở các quốc gia có nền kiến thức giàu bản sắc dân tộc.
Trong lĩnh vực Quản trị nguồn nhân lực Nhật Bản là quốc qia Á Đông đạt được những sự phát triển rất đáng khâm phục. Sau đây ta thấy những trải nghiệm mà các công ty của Nhật Bản đúc rút được từ những thành công trong ngành này:
trải nghiệm của các doanh nghiệp nhật bản:
- Thứ tự ưu tiên trong vận hành công ty : Con người – Tài chính – Công nghệ
- Thu dụng suốt đời
- Người lãnh đạo phải có kiến thức về con người
- tạo ra sự hài hòa trong mối liên kết con người
- Tránh sự không giống biệt về điều kiện sử dụng việc giữa cán bộ cai quản và công nhân
- quan hệ chủ thợ theo kiểu “trong nhà ’’.
- tinh thần hợp tác làm việc của nhân sự
- Trả luơng, thăng tiến theo thâm niên.
- Phương chân cơ bản trong tuyển chọn nhân sự là:
- Tuyển người có tư chất linh động
- Tuyển đồng đội chứ không tuyển ngôi sao”
- Ưu tiên tuyển người mới rời ghế nhà trường.
- đào tạo suốt đời bằng nhiều hướng dẫn
- Ra quyết định tập thể.
ảnh hưởng của sự refresh đến công cuộc Quản trị gốc nhân công
Chúng ta đã ở trong một thế giới đầy rẫy những biến động, mà những chuyển đổi đó luôn tác động đến chúng ta. Nhận thức gấp rút và đúng đắn về những thay đổi để có thể thực hiện tiến trình quản trị gốc nhân lực một hướng dẫn nghệ thuật là muốn và là trách nhiệm của các nhà quản trị.
Đặc điểm của đơn vị “cũ”:
Về cơ bản là một nền tảng quan liêu với những đặc trưng cơ bản như sau:
- Các vị trí và công việc được chuyên môn hóa
- nền tảng thứ bậc chính thức
- Các luật lệ và thủ tục vận hành được tiêu phù hợp hóa
- Biên giới giữa các bộ phận rõ ràng
- Các hoạt động được tiêu phù hợp hóa : huấn luyện , sự nghiệp , phần thưởng …
Đòi hỏi của tổ chức cho đến nay :
- Đầu tư cho tương lai … nhưng phải đạt những tiêu chuẩn của hiện nay.
- chấp nhận rủi ro … nhưng không được thất bại nghiêm trọng.
- Nâng cao chất lượng hiệu quả công việc … nhưng phải quan tâm hơn nữa đến người lao động.
- Biết all chi tiết … nhưng cùng lúc phải biết ủy quyền.
- Hết lòng vì tầm Nhìn … nhưng phải năng động và thích nghi.
- Hãy là người lãnh đạo … nhưng phải biết lắng nghe.
- làm việc hết mình và phải sự phát triển … nhưng phải biết chăm sóc gia đình.
Bối cảnh cho thực hiện trong một đơn vị mới:
Đặc tính của đơn vị | Các kỹ năng của cá nhân | Các đặc tính của đơn vị | cai quản môi trường |
mạng quan hệ | sử dụng việc theo đội | Cấu trúc theo đội | phát triển các liên minh |
Mỏng | Đàm phán | tăng trưởng hệ thống cổ vũ | cai quản biên giới |
linh hoạt | Đa Nhiệm vụ | thống trị lực lượng lao động | Học tập |
đa dạng | Lắng nghe, thông cảm | nền móng thống trị xung đột | liên kết nhân vật hữu quan |
toàn cầu | Truyền đạt đa văn hóa | Hội nhập đa biên giới | đáp ứng đòi hỏi địa phương |
MÔ hình CỦA QUẢN TRỊ HIỆN ĐẠI
Đặc tính | Mô ảnh truyền thống | Mô hình của thế kỷ 21 |
đơn vị | Tầng nấc | trực tuyến |
Cấu trúc | Tự cung cấp | dựa vào lẫn nhau |
đợi mong của NLĐ | An toàn | tăng trưởng cá nhân |
Lực lượng lao động | Đồng nhất | Đa văn hóa |
Công việc | Bởi một mình | Bởi đội |
thị trường | Nội địa | thế giới |
Lợi thế | chi phí | Thời gian |
chú trọng | lợi nhuận | KH |
nguồn lực | Vốn | Thông tin , tri thức |
thống trị / giám sát | Hội đồng quản trị | Nhiều đơn vị |
Chất lượng | Những gì chấp thuận được | không nhượng bộ |
Lãnh đạo | Độc đoán | gốc cảm hứng |
Truyền đạt | Trên xuống | Đa chiều |
Kiến nghị và sự tham dự | nền móng feedback | group chất lượng, khảo sát thái độ |
design công việc | Hiệu suất, năng suất, quy trình phù hợp, phạm vi hẹp, giới thiệu công việc cụ thể. | Chất lượng, thích nghi, đổi mới, phạm vi rộng, đội tự quản. |
huấn luyện | Các kỹ năng công việc, kỹ thuật, tính năng . | Đa kỹ năng, đa tính năng, phù hợp đoán và khắc phục vấn đề. |
Thực hiện | Năng suất, mục đích một mình. | Năng suất, chất lượng, mục tiêu của đội |
phân tích | Bởi cấp trên, quan tâm tài chính | khách hàng, đồng sự, cấp trên, chú trọng chất lượng và dịch vụ. |
Phần thưởng | Cạnh tranh để tăng trưởng doanh thu và lợi ích. | Các phần thưởng tài chính/ phi tài chính |
An toàn và thể trạng | xử lý các vấn đề phát sinh. | Phòng ngừa, an toàn sức khỏe |
Tuyển lựa và đề bạt | lựa chọn bởi các nhà thống trị | lựa chọn bởi các đồng sự |
phát triển ngành nghiệp | Ít skill, phát triển cá nhân tuyến tính. | skill phát triển trên cơ sở nhóm |
như vậy những refresh mà các nhà quản trị cần chú ý khi giải quyết các chủ đề về nhân viên đủ nội lực là:
- đơn vị đang refresh từ việc thực hiện công việc theo tính năng sang thực hiện công việc đa tính năng. Điều này đòi hỏi nền móng đào tạo chuyển hướng từ training từ chuyên môn hóa sâu sang đào tạo đa skill diện rộng. Công việc từ Nhiệm vụ đơn giản nhờ chuyên môn hóa hẹp sang công việc đa năng. Người lao động trong môi trường hiện đại cần thông minh chuyên môn của mình nhưng song song cần am hiểu các chuyên môn có liên quan.
- đơn vị được thiết lập một cách gọn nhẹ hơn ít tầng nấc hơn để đủ nội lực chuyển đăng thông tin nhanh chóng hơn và dễ dàng phản úng với sự thay đổi của hoàn cảnh. Việc tinh giảm gọn nhẹ bộ máy còn có ý nghĩa cần thiết trong việc giảm chi phí gia tăng mức độ cạnh tranh. Các giá trị văn hóa của tổ chức cũng vừa mới thay đổi từ thụ động sang thế chủ động. Mối liên hệ giữa các bộ phận ngày càng dựa vào vào nhau một cách chặt chẽ hơn .Vì vậy mà sự liên kết giữa các một mình để hoàn thành công việc cũng được tăng trưởng. Điều này được thực hiện trong một tổ chức đa kiến thức sẽ khiến tiến trình quản trị gốc nhân lực trở nên phức tạp và khó khăn.
- Cơ sở của việc nghiên cứu và thanh toán vừa mới thay đổi: từ lệ thuộc hoạt động chuyển sang phụ thuộc hiệu quả. rõ ràng tính thiết thực và kết quả ngày càng được đề cao. Việc trả lương dựa theo kết quả thay thế cho trả theo công việc đã buộc người lao động chú ý nhiều hơn nữa đến hiệu quả của những hoạt động của bản thân họ .
- Tiêu hợp lý để đề bạt cũng thay đổi: từ phụ thuộc hiệu quả công việc sang dựa chủ yếu vào cấp độ . Chính điều này đã mở ra và thúc đẩy công tác training hướng đến việc phân phối những năng lực cao cho tổ chức. Những người trẻ tuổi được đào tạo bài bản có nhiều thời cơ hơn trong thăng tiến nghề nghiệp.
cai quản plan về nhân lực được tiến hành trong một đơn vị nhằm tối đa hóa doanh số thu được từ tài sản nhân lực. mục đích của quản lý kế hoạch về nhân công là nâng cao kết quả chung của tổ chức bằng phương pháp nâng cao kết quả của từng người lao động.
Các nhà nghiên cứu cho rằng kết quả một mình của một nhân sự bị ảnh hưởng bởi 4 nguyên nhân độc lập sau đây:
- Vai trò: Nhận thức của nhân viên về Nhiệm vụ và trách nhiệm của mình
- Năng lực: khả năng của họ thực hiện các Nhiệm vụ và trách nhiệm đó
- Động cơ: Sự hăng hái của nhân sự trong việc ứng dụng mức độ cá nhân để thực hiện các trách nhiệm của mình.
- Điều kiện làm việc: Các điều kiện trong đó nhân viên thực hiện công việc.
Các ví dụ về điều kiện làm việc:
- Các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc
- phong cách thống trị
- mối quan hệ với đồng nghiệp
- hoàn cảnh làm việc và sự an toàn lao động
Bốn nguyên nhân độc lập trên đủ sức chia làm ba thành phần rõ rệt mà các nhà quản trị phải tham gia:
- Vai trò – liên quan đến công việc; bao gồm những chủ đề như: đánh giá công việc, thiết kế/thiết kế lại công việc.
- khả năng và động cơ – liên quan đến con người; bao gồm những chủ đề như: lập kế hoạch nhân lực, tuyển người, training và phát triển, thù lao, phân tích nhân viên.
- Điều kiện làm việc – liên quan đến công tác đơn vị như: nơi làm việc an toàn bầu không khí tập thể, các mối quan hệ lao động, đơn vị lao động khoa học.
- Sự gắn bó trung thành của người lao động luôn là mối để ý của các nhà thống trị. Sự gắn bó trunh thành với tổ chức thể hiện phần nào mức độ hài lòng với công việc và cuộc đời sẽ là thành phần quan trọng tạo động cơ xúc tiến nhân sự hoàn thiện tốt nghĩa vụ được giao. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự trung thành của nhân viên bao gồm:
nguyên tắc của sự gắn bó
trải nghiệm ở những công ty tốt nhất
- Đội được sử dụng để thực hiện công việc.
- Người lao động tham gia vào tiến trình tuyển lựa nhân viên.
- Người lao động nhận được những feedback chính thức về phân tích việc thực hiện nghĩa vụ và được tham gia tích cực vào quá trình hoàn thiện việc thực hiện.
- training thường xuyên được chú trọng và tưởng thưởng.
- thu nhập của người lao động gắn với hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
- Máy móc thiết bị và tiến trình sử dụng việc được cấu trúc để đề nghi tối đa sự linh động, năng động và sự tương tác giữa những người lao động.
- Người lao động tham dự vào hoạch định những cải thiện thiết bị, bố trí mặt bằng và các cách thức làm việc.
- design công việc cho phép người lao động dùng nhiều skill.
- Người lao động hiểu công việc của họ đóng góp như thế nào vào sản phẩm và dịch vụ cuối cùng.
Huy động nguồn nhân công
hiện tại, chủ đề huy động nguồn nhân lực được chú ý rất nhiều. Trong mọi việc công việc, đề nghi người khác làm việc được coi là vấn đề cần thiết nhất bởi vì ngay cả khi con người có năng lực cao nhưng không mong muốn làm việc, con người sẽ phung phí văn hóa và trí giỏi của mình.
làm sao để để tạo ra mong muốn làm việc? tất nhiên việc động viên và khuyên rằng nhân viên là điều quan trọng song chưa đủ, cần phải tạo ra những động lực cao hơn là sự cổ vũ.
Con người là chủ thể của mọi sự phát triển, thành ra thành phần con người là thành phần quyết định cho mọi sự sự phát triển.
định nghĩa về huy động nguồn nhân lực
Huy động gốc nhân công là khuyến khích lòng say mê của con người so với công việc. Đây là vấn đề đặc biệt cần thiết trong những năm Hiện nay và tất nhiên sẽ ngày càng trở nên cần thiết khi các tiêu chuẩn về dạy bảo và mức sống grow up. Tiếp nhận những trị giá này ngay cả khi mà mức sống của chúng ta chưa cao cũng có ý nghĩa quan trọng để mang đến những hành động và thái độ hướng đến những hợp lý mực cao hơn.
Vào những năm 90, thời điểm có những thay đổi lớn chưa từng có trong lịch sử giống như : thế giới hóa kinh tế , sự bùng nổ của công nghệ thông tin , phát triển của khoa học kỹ thuật, tự do bàn bạc thương mại và hàng loạt những refresh lớn về văn hóa, chính trị, thế giới. Những thay đổi này cũng tạo nên sự biến động mạnh mẽ đến huy động gốc nhân lực. Nếu trước đây, chủ đề huy động gốc nhân lực chỉ tụ họp vào công nhân trực tiếp sản xuất hoặc lứa tuổi trẻ thì hiện nay người ta đã hiểu rằng huy động gốc nhân công không hề ai khác mà chính là vấn đề của các nhà quản lý.
Bước vào những năm 90 của thế kỷ 20, công việc kinh doanh đã trở thành vấn đề đưa tính quốc tế. Những refresh về công việc và tuổi thọ con người được nâng cao thành ra huy động nguồn nhân công ngày càng được coi trọng.
Sự refresh nhanh chóng của hoàn cảnh không gian và kinh doanh buộc con người phải thích nghi với những thay đổi đó để đủ sức tồn tại và phát triển.
Để cung cấp với sự refresh, các doanh nghiệp đã tập kết tiến hành các hoạt động sau đây
- Nâng cao trí não hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
- tăng trưởng các sản phẩm / dịch vụ mới trong kinh doanh
- quy tụ các gốc lực vào tìm hiểu và tăng trưởng
- chú trọng các hoạt động tiếp thị và sale
- Yêu cầu các nhân sự trong công ty cần phải có mức độ thích nghi với sự thay đổi.
Việc huy động nguồn nhân công là thành phần cần thiết nhất để đạt được mục đích của công việc. Khi con người được khuyên rằng đa số, họ đủ sức vượt qua bất kỳ chông gai nào. xây dựng lòng say mê với công việc con người sẽ sự phát triển, tổ chức sẽ thắng lợi. Câu nói: “Nói đến một công ty chính là nói đến gốc nhân công của công ty đó” thể hiện rất rõ điều này. Một tổ chức được tạo ra có hoàn hảo đến đâu cũng sẽ trở nên vô ích thậm chí phản chức năng nếu con người không được huy động.
Ông Miyai, chủ tịch Trung tâm Năng suất Nhật Bản vì sự phát triển Kinh tế xã hội (JPC- SED) đang nhận xét: “Theo đánh giá và trải nghiệm của chúng tôi, trong mọi chăm chỉ nhằm nâng cao năng suất , tăng trưởng kinh tế không gian thì thành phần con người là cần thiết nhất. Một số người cho rằng “vốn” là thành phần quan trọng nhất trong phát triển công nghiệp, một số mọi người lại cho rằng “công nghệ” là nguyên nhân chủ đạo đối với năng suất. Đúng, những yếu tố này rất quan trọng, nhưng vốn đủ sức sử dụng sai nếu con người lạm dụng nó, và tiêu hợp lý công nghệ cao khó đủ sức duy trì được nếu k phát triển nguồn nhân công và nâng cấp tiếp tục nhờ nỗ lực của con người . Điểm này đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển mau về công nghệ”.
Huy động nguồn nhân lực trong công việc
Trong những năm đầu của thế kỷ 20, một kỹ sư người Mỹ, Frederich W. Taylor (1856-1915) vừa mới đưa ra một bước đột phá về công tác quản lý, dựa trên trải nghiệm của ông với tư cách là một nhà quản lý và nhà tư vấn. cách thức của Tay lor được tóm lược như sau:
- Chia nhỏ tiến trình sản xuất thành các bộ phận hợp thành (Các bước công việc, các thao tác, động tác, tiểu tác).
- tìm hiểu các thành phần tác động đến thời gian hoàn thành công việc.
- Dự kiến các điều kiện của đơn vị kỹ thuật tăng cao nhất.
- Tuyển lựa chọn kỹ càng những công nhân có thể trạng, sức chịu đựng dẻo dai nhất vàphù hợp với công việc nhất.
- Tiến hành luyện tập cho công nhân về bí quyết sử dụng việc chuẩn nhất trên cơ sở phù hợp hóa lao động thông qua chụp hình bấm giờ ngày làm việc.
- xác định Nhiệm vụ, định mức cụ thể cho từng công nhân. Công nhân quan trọng phải biết k những phải làm gì mà còn cần phải biết sử dụng ntn cho tốt nhất.
- Giải phóng công nhân khỏi chức năng thống trị. tính năng này do một bộ máy thống trị đảm nhận. Công nhân chỉ là những người thực hiện công việc và nhất thiết phải hoàn thành trong phạm vi trách nhiệm.
- dùng triệt để ngày làm việc, bảo đảm cho kênh sử dụng việc có các điều kiện cần thiết để thực hiện Nhiệm vụ trên cơ sở các tut công việc.
- Thực hiện chế độ trả lương khuyên rằng đối với công nhân hoàn thành nghĩa vụ và đáp ứng các tiêu phù hợp công việc hàng ngày.
hệ thống làm việc của Taylor vừa mới đạt được mức tăng trưởng năng suất rất lớn. nền móng này được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực công nghiệp ở Mỹ, được nhìn thấy như là nền tảng của doanh nghiệp và được duy trì giống như một nguyên lý cơ sở dựa vào đó thiết lập nên cơ cấu thống trị.
hệ thống của Taylor hoàn toàn thích hợp trong thời kỳ đó do những tại sao sau:
- Đốc công và công nhân của thời kỳ bấy giờ thiếu hiểu biết kỹ thuật cần thiết để lập ra các bí quyết làm việc, các tiêu phù hợp công việc …
- Tiêu chuẩn cuộc đời quá thấp nên tiền thưởng cho từng công việc là sự khuyên rằng hữu hiệu đối với nhân viên để đáp ứng các tiêu chuẩn.
- Sức mạnh kinh tế của giới chủ có thể để bắt buộc nhân sự chịu đựng một hệ thống cai quản như thế.
Nhưng đến nay, nền tảng Taylor đã nhanh chóng trở nên lỗi thời. Bởi hệ thống này chủ yếu hội tụ cho việc gia tăng năng suất dựa trên sự phù hợp hóa lao động và bảo đảm những điều kiện thực hiện công việc tốt nhất cùng với sự đề nghi của chính sách tiền lương. nền móng này chưa quan tâm nhiều đến tăng trưởng những năng lực một mình .Ngày nay người lao động được huấn luyện một hướng dẫn đa số, kể cả coaching về mặt kỹ thuật. Việc tăng tiêu hợp lý sống đã sử dụng giảm đáng kể mức ảnh hưởng của tiền thưởng đến năng suất. tăng năng suất phải được dựa trên ích lợi của tập thể chứ k chỉ dựa trên sự nỗ lực đơn phương của một vài cá nhân.
Tiến sĩ Juran, người Nhật đã viết: “ Mặc dù luận giải điểm của Taylor đã lỗi thời , nhưng nhiều khi chúng ta vẫn giữ lại hệ thống Taylor với all những điều cố hữu có hại khi dùng . Điều tai hại hiển hiện và nghiêm trọng nhất trong bàn luận điểm của Taylor là hạn chế dùng trí giỏi và sáng tạo của hàng triệu con người”.
Taylor cho rằng con người làm việc chẳng có mục tiêu gì không giống ngoài việc kiếm tiền. Đây cũng là quan niệm rất thông dụng trong các nước tăng trưởng Phương Tây.
Khi chúng ta nghèo, mối liên kết giữa công việc và đồng tiền rất khăng khít vì con người cần tiền cho cuộc sống khó khăn của mình. tuy nhiên khi đời sống trở nên sung túc hơn và thế giới ổn định hơn, giá trị của đồng tiền trong mối gắn kết với công việc sẽ nhanh chóng giảm xuống. Mặc dù tiền được nhìn thấy giống như sự trả công cho công việc và có thể giảm hay loại bỏ được một số những nguyên nhân bất mãn của nhân sự nhưng rõ ràng nó k mang lại mọi sự thỏa mãn mà người lao động muốn. Các phần thưởng vô hình mà công việc đem lại như cảm giác thành công trong công việc, hay sự chân tình, sự share niềm vui của đồng nghiệp sự tự hào với công việc … tuy nhỏ nhặt nhưng lại là những điều vô giá.
làm thế nào cho công việc trở nên đam mê, hấp dẫn với người lao động là vấn đề mà các nhà quản trị hiện giờ luôn chú ý. Có một đánh giá chung cho rằng, trong công việc có thể một số lúc khiến người xung quanh k được ưng ý thì thể thao lại là một trò chơi hấp dẫn. Nếu chúng ta đủ nội lực biết được các thành phần sử dụng cho thể thao có tính hấp dẫn và thực hiện các bước tích cực để kết hợp chúng vào công việc thì tất nhiên công việc sẽ trở nên hấp dẫn hơn. người ta đã chỉ ra những đặc tính làm cho thể thao cuốn hút đó là:
- Tính tự chủ và tự nguyện: Thể thao chuyên nghiệp có thể rất cuốn hút với người ngoài cuộc nhưng chưa chắc thực sự hấp dẫn với chính mình người trong cuộc. do đó ta mới hiểu vì sao những người chơi thể thao nghiệp dư cảm thấy rằng thể thao là một trò chơi thú vị. Bởi họ thưởng thức nó một cách tự nguyện và theo điều kiện nơi riêng của mình. Họ hoàn toàn k chịu sức ép giống như các vận động viên chuyên nghiệp.so với nhân sự sử dụng công ăn lương được trả lương để thực hiện công việc được phân công, họ sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi cho rằng họ đang làm những công việc mà không phải chịu một sức ép từ cấp trên hay những mọi người. Họ cảm thấy thoải mái hơn khi được sử dụng những công việc do sở like của bản thân. rạch ròi tính tự chủ và tình nguyện tạo ra sự thoải mái và hưng phấn trong công việc.
- thành phần bất ngờ: Trong thể thao , mọi thứ đều đủ sức xảy ra, mọi thứ không phải lúc nào cũng diễn ra như muốn và điều này làm cho nó có tính ly kỳ, hấp dẫn. k có gì buồn chán hơn một trò thể thao hoặc đủ sức dự đoán được hoàn toàn hoặc k thể dự đoán trước bất cứ điều gì. Trong công việc có được những kết quả tốt xinh ngạc nhiên sẽ khiến chúng ta thú vị hơn.
- yếu tố căng thẳng: Thể thao được yêu like vì nó ít tạo ra sự căng thẳng. mức độ mà chúng ta có thể dự báo trước được kết quả sẽ giúp giảm sự kịch tính nhưng nó lại sử dụng giảm sự hứng thú, nói hướng dẫn khác sẽ khiến nó trở nên tẻ nhạt. Mặt không giống chúng ta sẽ cảm thấy k chịu nổi nếu luôn ở trong trạng thái kịch tính từ lúc khởi đầu cho đến khi chấm dứt. giống như thế, để có hiệu quả tốt nhất trong công việc, cần phải tạo ra được một mức độ căng thẳng nhất định.
- Giữ nhịp độ: Mỗi loại ảnh thể thao có một nhịp độ riêng và công việc cũng vậy. Một nhịp độ chuẩn đem lại năng suất cao và không xây dựng sự kịch tính thần kinh. Sự rối loạn nhịp độ sử dụng việc gây ra tổn hại đến thể trạng và tâm lý cho nhân sự. do đó, điều cần thiết là phải duy trì ổn định nhịp độ sử dụng việc. ngoài ra , có nhiều nguyên nhân bên ngoài thường có khuynh hướng sử dụng rối loạn nhịp độ , thậm chí ngay cả khi công nhân vừa mới nỗ lực sử dụng việc một cách tốt nhất; gợi ý giống như việc phân phối nguyên vật liệu k kịp thời, sự cố về máy móc , ngưng việc do các lỗi về kỹ thuật …Chúng ta cũng nên biết rằng các yếu tố ảnh hưởng đến nhịp độ làm việc đủ sức là do người quản lý hoặc nhân sự hay do chính chính mình công nhân gây ra.
- hiệu quả ngay lập tức: Trong hầu hết các môn thể thao, các kết quả được nhìn thấy ngay. Chúng ta sẽ cảm thấy chán ngay khi mà kết quả phải mong đợi quá lâu. Thấy được kết quả ngay khi chấm dứt cuộc chơi mà chẳng hề mong muốn là một trong những nguyên nhân khiến thể thao được yêu like. Mặc dù vậy, trong công việc, các hiệu quả cố gắng của nhân viên hiếm hoi khi thể hiện ngay lập tức, chính điều đó khiến cho người xem đôi khi kém tuyệt vời với công việc. vấn đề ở đây là các nhà cai quản cần phải thiết lập một nền móng có mức độ gấp rút thông báo được hiệu quả làm việc cho nhân viên. Sự phản hồi gấp rút kết quả làm việc giống như một động lực khuyên rằng con người vươn lên.
- Tự đặt ra phương thức cho mình: Trong phần lớn các môn thể thao chúng ta hầu hết chỉ để ý đến kết quả thắng- thua chứ không chú ý đến phương pháp biểu diễn tốt hay xấu, có tuân thủ luật chơi hay không. Tương tự giống như vậy, vấn đề quan trọng trong sản xuất là nỗ lực tạo ra các hàng hóa k có khuyết tật và các tiêu chuẩn hoạt động dẫu có được coi là hay đến đâu thì luôn luôn nhìn thấy là không trị giá nếu kết quả của nó là xây dựng nhiều khuyết tật.Để hạn chế các khuyết tật người ta thường mang ra các tut tiêu phù hợp và bắt buộc người xung quanh phải tuân thủ. ngoài ra, mỗi cá nhân đều có tính mẹo, ưu thế và yếu điểm riêng nên việc chăm chỉ bắt buộc người xung quanh tuân theo các tiêu hợp lý nhất định có khi đem lại kết quả k tích cực , xây dựng sự rối loạn nhịp độ của công việc, kéo đến nhiều món hàng khuyết tật , hiệu quả k như mong muốn. Điều đó cũng giống như bắt một người thuận tay trái theo một tiêu chuẩn lập cho người thuận tay phải. như vậy, thay vì bắt buộc người khác tuân thủ các tiêu phù hợp thì nên dùng những hướng dẫn tiêu chuẩn này để tạo ra các phương thức vận dụng phù hợp cho từng cá nhân.
- chăm chỉ và kỹ năng: Trong thể thao, kết quả đạt được phụ thuộc vào nỗ lực và skill của chính bản thân mình. Đó là tại sao tại sao chúng ta tức giận với bản thân mình khi thi đấu hay thực hiện không tốt. Cũng như thế, chúng ta sẽ thấy rất hạnh phúc khi các cố gắng của mình được người khác khen ngợi. Điều này cũng được áp dụng trong công việc. cho nên chúng ta cần sử dụng cách nào đó để đủ nội lực thiết lập ở nơi làm việc một cơ chế cho phép skill và chăm chỉ của nhân viên được phản ánh ngay vào kết quả. đồng thời cơ chế đó cho phép nhân viên cùng share những kết quả mà họ đang đạt được với đồng nghiệp.Chúng ta cũng hiểu rằng một khi mà các skill được nâng lên thì lòng say mê với thể thao hay công việc cũng sẽ được grow up. Sự kém cỏi sẽ giúp cho người đọc easy chán nản. do vậy trong công việc nên xây dựng những điều kiện giúp và khuyến khích cho nhân sự một tinh thần sáng tạo.
Tính sáng tạo là một nguyên nhân cần thiết ở bất kỳ loại công việc nào, nhưng cần bảo đảm một chân trời thêm vào. ví dụ trong thể thao, đôi khi cũng thật đam mê khi cố gắng chiến thắng đối thủ bằng cách lừa được trọng tài và uốn cong các nguyên tắc. ngoài ra những sáng tạo như vậy là nằm ngoài luật lệ và thắng lợi giống như vậy k thể là vinh dự. Chỉ có loại sáng tạo cho phép trong thể thao là loại sáng tạo tuân thủ các quy tắc theo trí não chơi trung thực. Trong công việc, các quy định bắt buộc như cũng đòi hỏi tuân thủ một mẹo trung thực. Nghĩa là các thành công của nhân sự phải dựa trên những nỗ lực và kỹ năng của chính họ. Sự công bằng luôn phải được tôn trọng ở mọi khía cạnh.
- thành quả và sự nhận biết: Thường khi chúng ta đạt được một hiệu quả tốt trong thể thao, chúng ta thường khoe với friends. Thậm chí k nói ra thì bạn bè của chúng ta cũng nhận biết và chúc mừng ta. ngược lại, chúng ta cảm thấy xấu hổ khi bạn bè chế nhạo khi chúng ta thua. khuyến khích là phần thưởng không mua được bằng tiền. Nhưng hiệu quả của nó tồn tại tương đối ngắn và k thể dùng mãi. người ta sẽ cảm thấy chán khi chỉ có những lời khen lặp đi lặp lại. cho nên cần phải tạo ra nhiều cố gắng hơn nữa để tìm ra những công thức mới phù hợp cho người lao động. Thông thường, chỉ một câu nói của người cai quản có thiện chí, tôn trọng cấp dưới của mình cũng đủ nội lực là một sự khuyến khích rất có tác dụng.
giống như vậy, huy động nguồn nhân công là vấn đề rất cần thiết .Huy động con người tức là chúng ta đã mang tính nhân bản (đặc biệt là tính sáng tạo và tính xã hội) vào công việc. Điều đó có nghĩa là bằng hướng dẫn nào đó động viên tinh thần làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn, phát huy cao độ tinh thần sáng tạo của nhân viên cũng như phát triển cao nhất những năng lực của một mình để đạt được năng suất cao nhất trong công việc nhằm cung cấp mục đích chung của tổ chức.
Sau đây là các quan niệm cần thiết để huy động gốc nhân lực trong công việc:
- Nêu rõ mục tiêu, ý nghĩa của công việc: Người lao động cần phải được hiểu rõ mục đích của công việc trước khi công việc khởi đầu. Bởi vì, nếu k vì một mục tiêu nào đó thì chẳng ai sử dụng việc cả. Khi nhận thức được mục tiêu của công việc và tầm quan trọng của nó con người sẽ có những động lực hướng đến thành đạt với công việc. giống như vậy mục tiêu của công việc cần phải được giải thích một hướng dẫn rạch ròi và người khác cần phải được hiểu và nhận thức được tầm cần thiết phải đạt được những mục đích đó.
- Nâng cao suy nghĩ trách nhiệm so với công việc: Trong thực tiễn , mỗi người có một hướng dẫn tiếp cận không giống nhau trong sử dụng lao động, điển hình có hai cách tiếp cận là:
- tuyển nhân viên nhân lực thay thế cho máy móc
- tuyển dụng nhân lực để dùng máy móc
phương pháp thiếp cận thứ nhất tụ họp vào máy móc, phương pháp tiếp cận thứ hai hội tụ vào con người.
luận giải điểm của phương pháp tiếp cận thứ nhất (tuyển dụng nhân công thay thế máy móc) là: với một công việc đơn điệu hay quá phức tạp cần sử dụng nhiều loại máy móc không giống nhau dễ sử dụng cho người lao động chán nản hoặc nhàm chán đối với công việc do vậy sẽ kéo đến tâm lý k thỏa mãn giảm sự hưng phấn đối với công việc ; do vậy tốt nhất là Automation công việc. như vậy những người tiếp cận theo quan niệm này ban đầu hướng đến việc tuyển dụng nhân lực để thay thế máy móc song giới hạn mà họ gặp phải lại làm cho họ tụ họp vào máy móc. tuy nhiên những chông gai về tài chính hay thiếu khả năng về kỹ thuật đã làm cho họ không có phương pháp khác ngoài dùng lao động con người.
Khi con người được sử dụng để thay thế cho máy móc, thì việc giải thích cụ thể các phương tiện và phương pháp sử dụng quan trọng hơn nhiều so với việc nêu ra mục đích đạt được, mà mục tiêu của công việc lại rất cần thiết trong thực tiễn. rõ ràng, nhận thức sâu sắc về trách nhiệm đối với công việc, k thể xây dựng bằng hướng dẫn coi người lao động giống như một dạng thay thế cho máy móc và chỉ nói với họ phải sử dụng như thế nào mà không nêu rõ mục tiêu của công việc đó.
lý luận điểm thứ hai (tuyển dụng nhân lực để sử dụng máy móc) cho rằng, mặc dù có sự tự động hóa thì cũng không thể thiếu con người để dùng máy móc thực hiện công việc. Với bàn luận điểm này, việc dạy bảo và đào tạo là quan trọng.
Trách nhiệm với công việc gồm có nhiều khía cạnh như: thái độ tích cực đối với công việc, sự tuân thủ quy trình công nghệ, trách nhiệm với việc giữ gìn tài sản của tổ chức, trách nhiệm với sự an toàn tính mạng của người khác … (mà chúng ta sẽ đề cập ở chương sau). Nhưng ở đây quan tâm bấm mạnh hơn vào thái độ tích cực với công việc.
Các nhà tìm hiểu cho rằng để một người có trách nhiệm đầy đủ với công việc và để đạt mục tiêu của công việc thì phải hội quá đủ các điều kiện sau:
- mục tiêu của công việc phải được sử dụng sáng tỏ
- phải có một mức tự do tối đa đủ nội lực được trong sử dụng phương tiện và cách thức để đạt được mục đích.
mục đích công việc phải được người xung quanh đồng ý. Để đạt được điều đó nghĩa vụ của mỗi người phải được làm rõ và họ phải được đối xử một mẹo công bằng và thẳng thắn.
Sự tham gia của người lao động trong doanh nghiệp thường grow up khi gia tăng mức giáo dục và training cho họ. rõ ràng gia tăng cấp độ giáo dục và huấn luyện cùng với việc tôn trọng nhân cách của nhân viên góp phần nâng cao trí não trách nhiệm so với công việc của nhân sự.
- Phát huy tính sáng tạo
- vận dụng hợp lý sự tiêu phù hợp hóa. Sự cần thiết và tầm quan trọng của tiêu phù hợp hóa thường được bấm mạnh từ quan niệm cập nhật hiệu quả công việc và đảm bảo chất lượng. Sự tiêu chuẩn hóa đủ nội lực được chia thành: Tiêu phù hợp hóa vật thể (hàng hóa) và tiêu phù hợp hóa công việc. người khác đều nhận thấy rằng tiêu phù hợp hóa vật thể là rất quan trọng, k chỉ tạo điều kiện cho không khó khăn hóa các dịch vụ sau khi bán mà còn bảo đảm chất lượng và độ tin cậy, giảm ngân sách và gia tăng năng suất. bên cạnh đó, khi đề cập đến tiêu phù hợp hóa công việc một phương pháp chặt chẽ thì đã nảy sinh một số chủ đề.
chủ đề trước nhất là tiêu phù hợp hóa công việc mâu thuẫn với sự khuyên rằng, xúc tiến nhân sự vì nó giới hạn phạm vi của tính sáng tạo và sự chân thành của một số người gắn kết với công việc. Bởi chúng ta đang hiểu rằng , khi cho phép mọi người có sự tự do tối đa đủ sức được trong việc sử dụng phương tiện và phương pháp thực hiện công việc của họ thì họ càng có ý thức cao hơn về trách nhiệm và tính sáng tạo . Sự tự do càng nhiều thì tính sáng tạo càng cao. Nên sự tiêu phù hợp hóa quá chặt chẽ đủ sức là rào cản cho những tư duy sáng tạo.
chủ đề thứ hai là, mặc dù sau một thời gian dài nỗ lực thực hiện tiêu chuẩn hóa phương pháp làm việc nhưng các tiêu chuẩn thường không được tuân thủ. Việc chuẩn bị và design các tiêu chuẩn thường đòi hỏi nhiều thời gian và công sức và là một công việc tương đối khó khăn. Trong thực tiễn những nỗ lực để công nhân thực hiện các tiêu hợp lý được xây dựng đã trở nên k có kết quả. đủ nội lực việc thực hiện theo các tiêu hợp lý lập ra là quá chông gai so với công nhân.
Các tiêu hợp lý công việc trong công cuộc sản xuất đủ nội lực được lập bằng nhiều phương pháp, nhưng thường gồm có 3 mục sau:
- mục đích của công việc: mục tiêu của công việc gồm có các quy định chất lượng hoặc các tiêu phù hợp chất lượng so với các món hàng trung gian hoặc sản phẩm hoàn chỉnh. Các tiêu hợp lý này cần phải được lập trong công cuộc.
- Những bắt buộc trong thực hiện công việc: bao gồm các quy định gắn với tiến trình thực hiện công việc; các quy định nhằm đảm bảo an toàn cho sức khỏe và tính trực tuyến cho người lao động ; hay bảo đảm chất lượng hàng hóa.
- Phương tiện và phương thức dùng khi thực hiện công việc.
Trong 3 mục trên đây, mục 1 luôn phải đạt được và mục 2 phải được người lao động tuân thủ một cáh đa số. Nói một mẹo khác người lao động phải xây dựng những sản phẩm thêm vào và phỉa sử dụng việc một cách an toàn. tuy nhiên, chúng ta cũng hiểu rằng những quy định ở mục 2 càng ít thì mức độ tự do trong thực hiện công việc càng nhiều và việc thực hiện công việc càng đơn giản hơn.
tất nhiên đối với các công việc có mức nguy hiểm cao buộc chúng ta phải cẩn thận hơn, nên có nhiều sự giám sát hơn, vì mọi người đều phải quan tâm đến sự an toàn cho bản thân và cho người xung quanh.
so với mục 3 có ý kiến cho rằng chỉ nên đưa ra các mẹo cơ bản , dựa vào đó thông qua lao động cùng với sự luyện tập và chăm chỉ của chính mình mỗi người sẽ tự tìm ra bí quyết tốt nhất cho mình. quan điểm này cho rằng k nên bắt buộc các học viên mới phải thực hiện chính xác các cách thức cơ bản mà họ vừa mới học được vì điều này không tut họ đến việc trốn tránh trách nhiệm mà còn ngăn cản họ tăng trưởng kỹ năng.
Khi kỹ năng của công nhân được nâng cao và họ dùng óc sáng tạo của mình để phát triển các phương thức cơ bản thành các phương pháp sử dụng việc thực tế, các công thức đó sẽ được mang vào tiêu chuẩn sử dụng việc cho các công nhân có kỹ năng. cần có một nền tảng ghi lại các ví dụ, quan niệm của cá nhân hay group để hoàn thiện các công thức sử dụng việc. cùng lúc, cần mang ra các tut để bảo đảm rằng các thủ tục k đối lập với các quy định ở mục 2. Các mẹo cơ bản cũng cần được sửa đổi theo định kỳ để thích hợp và tăng tính kết quả.
như vậy, tính sáng tạo và tiêu phù hợp hóa không loại trừ lẫn nhau mà trái lại, chúng bổ sung cho nhau. Thông qua áp dụng tiêu chuẩn hóa một phương pháp phù hợp , con người thực sự gắn với công việc và đủ nội lực phát huy đầy đủ tính sáng tạo của mình , phát kiến ra các phương thức thực hiện công việc tốt hơn,tạo ra các chăm chỉ nhằm cải tiến và nâng cao kết quả.
- xây dựng nơi sử dụng việc sáng tạo hơn: xây dựng sự sáng tạo trong công việc là rất quan trọng trong huy động con người. Dưới đây là các bước cần thiết tác động đến sự ảnh hưởng đến sự sáng tạo:
- Khi mang ra các hướng dẫn, phải làm rõ mục đích thực sự của công việc.Mỗi công việc có một mục đích và việc đạt được mục tiêu này là chủ đề quan trọng nhất. Để đạt được các mục tiêu đó con người có thể có nhiều phương mẹo để đạt được mục đích. Ngoài các quy định mang tính bắt buộc liên quan đến sự an toàn và bảo đảm chất lượng, thông tin liên quan tới các phương tiện và cách thức chỉ nên mang ra để tham khảo, và cần khuyến khích mọi người tự tìm ra những cách tốt nhất cho mình để đạt được mục đích.
- Tạo cho người xung quanh có ý thức trách nhiệm cao đối với công việcthỉnh thoảng con người thường lo lắng hãi, thiếu ý chí và có thiên hướng đổ trách nhiệm cho người khác khi công việc không thành công; Họ tìm mẹo bào chữa và lẩn tránh khi công việc của họ xấu đi, vì thế cần phải ngăn chặn những lỗi lầm giống như thế bằng việc định hình rõ trách nhiệm của mỗi người cùng với việc nâng cao giáo dục đào tạo ý thức trách nhiệm cho mỗi một mình.
- Dành thời gian để xây dựng các ý tưởngKhi có ý thức trách nhiệm họ sẽ chú ý đến tầm cần thiết của vấn đề một mẹo sâu sắc và từ đó sẽ lóe lên những sáng tạo, những ý tưởng mới. Những ý tưởng xuất sắc phần lớn được nảy sinh trong thời điểm mà ta suy nghĩ vấn đề một mẹo thấu đáo và đạt tới một tìm hiểu sâu và độc lập.
- mang các ý tưởng tự nhiên thành hiện thựcNhững ý tưởng xây dựng bằng hướng dẫn này là rất mong manh. Nếu chúng được tra cứu một mẹo khó tính hoặc kìm nén thì rất dễ bị xóa sạch hoàn toàn. thành ra, không nên có sự chống đối nhất là trong giai đoạn sơ khai của các ý tưởng. Hãy tạo điều kiện để các ý tưởng sơ khai ban đầu thành một ý tưởng có tính thiết thực. Nói hướng dẫn khác, người lãnh đạo k nên đi quanh dội những gáo nước lạnh vào các ý tưởng mới mà trở nên là người bảo trợ và khuyên rằng các ý tưởng tăng trưởng.
- đề nghi khích lệ
- Khen ngợi, trách mắngTrong thực tiễn, các thiếu sót và yếu điểm dễ Quan sát nhận hơn là các ưu điểm. tuy nhiên, việc tìm ra các điểm yếu để khắc phục và update nó cũng không phải là điều không khó khăn. Trong lĩnh vực sáng tạo nếu chúng ta chỉ nhìn thấy các nhược điểm trong các ý tưởng của một ai đó và thông báo cho họ là nó không tốt thì sẽ khiến cho người đó mất hết nhiệt huyết và ý tưởng đó sẽ không được nuôi dưỡng và phát triển. không những thế, nếu chúng ta tìm thấy những ưu thế trong các ý tưởng đó và thông báo cho họ biết thì hiển nhiên họ sẽ vui mừng vì thấy chúng ta chấp nhận ý tưởng đó. Điều này còn có ý nghĩa như một sự khuyến khích họ phải sử dụng điều gì đó nhiều hơn là chỉ dừng lại ở ý tưởng. Khi những cơ hội của sự sáng tạo được nảy sinh, hãy rộng lượng bỏ qua các sai sót và vận dụng tính vui nhộn và sự khuyến khích.
- Nhận biết chăm chỉMột số người ủng hộ việc dùng phương pháp quản lý bằng mục tiêu để đánh giá những cố gắng của người lao động. Các cá nhân hay group mang ra các mục tiêu và nỗ lực đạt được các mục tiêu đó. Các hiệu quả đạt được được đánh giá theo cấp độ hoàn thành các mục đích đó.
không những thế, nếu các mục tiêu bắt buộc lại do các cấp quản lý cao hơn đặt ra thì khi mục tiêu k đạt, người lao động sẽ cố gắng tìm những lời bào chữa phù hợp cho mình. Khi người lao động tự đặt mục tiêu cho mình họ sẽ có xu hướng đặt ra các mục tiêu thấp để đơn giản đạt được – có nghĩa là chỉ cần ít sự cố gắng để đạt được mục đích mà luôn luôn được đánh giá là tốt. như vậy bí quyết đánh giá theo quản lý bằng mục tiêu có thể sẽ kéo đến khuynh hướng đề nghi người xung quanh không cố gắng phấn đấu – Đây là điều k mong muốn trong bất kỳ đơn vị nào.
mọi người tự đặt ra mục đích cho mình là điều tốt nhưng việc đánh giá những nỗ lực của cá nhân k nên dựa vào các mục đích đó mà nhấn mạnh hơn những tiến bộ của một mình. Ở đây điều quan trọng không phải là tập trung hoàn toàn vào kết quả có đáp ứng được mục đích hay k, mà là tìm ra vì sao và mẹo nào mà công cuộc refresh. Điều đó cho chúng ta thấy được người lao động đang cố gắng ntn để tạo ra sự cải thiện. Sự nhận biết và ghi nhận những chăm chỉ của người lao động có ý nghĩa cực kỳ cần thiết huy động gốc nhân lực. Thậm chí ngay cả khi kết quả không thỏa mãn được tiêu phù hợp, chúng ta cũng nên ghi nhận những chăm chỉ và khuyên rằng sự cải thiện.
- Phát huy sử dụng việc theo tổ đội
- Công việc tổ đội: Những refresh bây giờ đã cho thấy hiếm một công việc nào trong tổ chức đủ nội lực thực hiện một cách độc lập. hiện tại đơn vị lao động nhỏ nhất k còn là người (cá nhân) mà là tổ, đội, group. Các công việc của các bộ phận, group thường liên quan với nhau bằng hướng dẫn này hay mẹo khác. Thậm chí nếu một công việc nào đó, bằng trực quan ta thấy chẳng liên quan gì tới công việc khác, nhưng xem xét theo mẹo tiếp cận định hình KH thì ta sẽ thấy được mối liên kết giữa chúng.Nhằm đạt được mục tiêu thực sự, cuối cùng, toàn bộ các cá nhân và các nhóm phải suy nghĩ một hướng dẫn sâu sắc về trách nhiệm trong khắc phục các công việc mà họ được phân công , song song , họ cũng cần duy trì sự quan tâm tới các công việc khác liên quan đến công việc của họ .
thực tiễn chứng minh rằng: các ý tưởng suất sắc thường được xây dựng khi người khác đứng trên các phương diện và quan điểm khác nhau nhưng đều chung mối chú ý mạnh mẽ tới một công việc cụ thể và cùng nhau bàn thảo. Câu nói: “hai cái đầu hơn một cái đầu” luôn luôn có chức năng nếu như họ đều nghĩ theo đường lối giống nhau.
Một điều cần note là k nên phân chia gianh giới rạch ròi giữa các công việc, mà cần xây dựng rộng phạm vi trách nhiệm, từ đó các công việc tiếp nối nhau và tạo ra mối chú ý chung của người khác.
mở rộng phạm vi công việc của mọi người khi skill của họ được nâng cao không chỉ là phương pháp nhận biết khả năng phát triển của người lao động mà còn là một bí quyết hữu dụng để phát huy khả năng của họ.
- tăng trưởng cường cộng tác và cạnh tranh: Trong quản lý, người thống trị phải hiểu được đặc điểm của từng một mình để phát huy tốt nhất những khả năng của họ chứ không nên đồng nhất họ bằng sự “tiêu phù hợp hóa”. mong muốn cập nhật của con người gắn liền với ý thức cạnh tranh. Một điều lưu ý rằng, trí não cạnh tranh này k chỉ tồn tại giữa các group đối địch nhau mà còn tồn tại giữa các thành viên của một group giữa những người cần hợp tác với nhau.Người quản lý k được cản trở mà ngược lại cần xúc tiến phong trào cạnh tranh nhằm khuyên rằng lòng muốn cập nhật và tinh thần học hỏi của người khác. Nhưng cạnh tranh phải nằm trong quy tắc nhất định và k đi ngược lại với tính “trung thực”.
- Công việc tổ đội: Những refresh bây giờ đã cho thấy hiếm một công việc nào trong tổ chức đủ nội lực thực hiện một cách độc lập. hiện tại đơn vị lao động nhỏ nhất k còn là người (cá nhân) mà là tổ, đội, group. Các công việc của các bộ phận, group thường liên quan với nhau bằng hướng dẫn này hay mẹo khác. Thậm chí nếu một công việc nào đó, bằng trực quan ta thấy chẳng liên quan gì tới công việc khác, nhưng xem xét theo mẹo tiếp cận định hình KH thì ta sẽ thấy được mối liên kết giữa chúng.Nhằm đạt được mục tiêu thực sự, cuối cùng, toàn bộ các cá nhân và các nhóm phải suy nghĩ một hướng dẫn sâu sắc về trách nhiệm trong khắc phục các công việc mà họ được phân công , song song , họ cũng cần duy trì sự quan tâm tới các công việc khác liên quan đến công việc của họ .
nguồn: voer.edu.vn